Nguồn gốc cách tính

Mỗi kết luận tốt hay xấu trên site đều mang một dấu xuất xứ dẫn về đúng mục trong mục lục nguồn của trang này; ghi chú đầy đủ của từng mục ở trang danh mục nguồn tham khảo. Nếu một tầng luận đoán không có căn cứ đủ rõ, chúng tôi để trống và nói lý do, chứ không đăng cho đủ mặt.

Cách tính lịch âm

Ngày âm lịch tính theo quy tắc của Hồ Ngọc Đức: ngày chứa thời điểm sóc là mùng Một; tháng Mười Một là tháng chứa Đông chí; năm nào có mười ba tháng giữa hai Đông chí thì tháng nhuận là tháng đầu tiên sau tháng Mười Một mà không chứa trung khí. Toàn bộ mốc thời gian quy về giờ Việt Nam UTC+7 (kinh tuyến 105°Đ).

Thời điểm sóc và kinh độ mặt trời tính bằng công thức thiên văn của Jean Meeus; riêng kinh độ mặt trời đi theo lối chính xác cao của sách, dùng chuỗi VSOP87. Sai số kinh độ mặt trời dưới hai giây cung, tức chưa tới một phút về giờ giao tiết, rất nhỏ so với khoảng cách giữa hai mốc trung khí, nên kết quả ngày tháng ổn định.

Vì tính theo UTC+7 chứ không phải UTC+8, lịch âm Việt Nam có năm lệch với nông lịch Trung Quốc. Trường hợp rõ nhất là năm 1985: Tết ở Việt Nam vào 21/01 còn ở Trung Quốc vào 20/02. Muốn thử một bảng lịch âm có tính theo giờ Việt Nam hay không, tra Tết năm 1985 là thấy ngay.

Cách chia mười hai canh giờ

Một ngày chia làm mười hai canh giờ, mỗi canh hai tiếng, bắt đầu từ giờ Tý lúc 23:00. Chúng tôi theo lối tính thông hành: trọn giờ Tý từ 23:00 đến 00:59 thuộc về ngày bắt đầu lúc 23:00, nghĩa là bảng giờ hoàng đạo của một ngày mở đầu bằng đúng canh giờ đó.

Có một lối tính khác chia giờ Tý làm hai nửa — “dạ Tý” 23:00–23:59 tính cho ngày cũ và “tảo Tý” 00:00–00:59 tính cho ngày mới. Chúng tôi không dùng lối này, để bảng giờ và Can Chi ngày cùng đổi tại một mốc duy nhất là 00:00 giờ Việt Nam. Nếu bạn đối chiếu với một cuốn lịch dùng lối chia đôi, khác biệt nằm ở đây chứ không phải ở phép đếm thập nhị thần.

Tầng năm mệnh: xung hợp và nạp âm

Khi bạn đưa năm sinh ở mục Xem ngày tốt, chúng tôi lấy Can Chi của năm âm lịch đó rồi đối chiếu với Can Chi của ngày theo bốn quan hệ có bảng công thức hóa:

  • Lục xung — hai Chi cách nhau sáu ngôi: Tý–Ngọ, Sửu–Mùi, Dần–Thân, Mão–Dậu, Thìn–Tuất, Tỵ–Hợi. Ngày xung tuổi bị loại khỏi danh sách.
  • Lục hợp — sáu cặp cố định: Tý–Sửu, Dần–Hợi, Mão–Tuất, Thìn–Dậu, Tỵ–Thân, Ngọ–Mùi.
  • Tam hợp — bốn nhóm ba Chi cách nhau bốn ngôi: Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Tỵ Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi.
  • Sinh khắc nạp âm — so hành nạp âm của năm sinh với hành nạp âm của ngày theo vòng tương sinh Mộc → Hỏa → Thổ → Kim → Thủy và vòng tương khắc Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc.

Bốn bảng này là bảng công thức hóa: biết Chi năm sinh và Chi ngày là bạn tự đếm lại được kết luận của chúng tôi, không phải tin lời ai. Vì thế chúng tôi làm phần này, trong khi vẫn để trống các mục cung phi bát trạch, kim lâu, hoang ốc và tam tai — những mục mỗi sách chép một khác.

Năm mệnh tính theo năm âm lịch. Người sinh trong khoảng từ đầu năm dương lịch đến trước Tết thuộc năm âm lịch liền trước, nên hãy lấy năm âm lịch của mình chứ không lấy máy móc bốn chữ số trên giấy khai sinh.

Năm sinh bạn nhập nằm trong đường dẫn của trang; site không có cơ sở dữ liệu nào giữ nó. Nhưng vì là một phần của đường dẫn, năm sinh có thể có mặt trong số liệu lượt xem trang của Google Analytics và trong nhật ký kỹ thuật của máy chủ, như mọi đường dẫn bạn mở — chi tiết ở trang quyền riêng tư.

Giới hạn của dữ liệu

Việt Nam không có cơ quan nào công bố lịch biểu hằng năm ở dạng máy đọc được, khác với Nhật Bản hay một số nước khác, nên không có một bảng chính thức để dò từng ngày. Kết quả trên site phải thỏa ba điều: các bất biến của chính quy tắc, đúng các ngày Tết đã công bố, và đúng trường hợp lệch năm 1985. Nếu bạn phát hiện một ngày sai, xin báo kèm nguồn để đối chiếu.

Đổi ngược từ âm lịch sang dương lịch

Chiều xuôi — dương sang âm — đi thẳng từ quy tắc ở trên. Chiều ngược lại, chúng tôi không giải phương trình mà dựng bảng: với một năm âm lịch, lấy mùng Một tháng Giêng làm mốc rồi đi lần lượt từng tuần trăng tới trước Tết năm sau, mỗi tuần trăng hỏi lại chính hàm đổi xuôi xem nó là tháng mấy và có phải tháng nhuận không. Bảng ấy cho luôn số ngày của từng tháng. Đổi ngược chỉ còn là tra bảng.

Cách làm này có một chỗ lợi đáng nói: hai chiều dùng chung một phép tính, nên không thể lệch nhau — đổi một ngày sang âm lịch rồi đổi ngược lại thì luôn ra đúng ngày cũ, bạn thử với ngày nào cũng vậy.

Ngày âm lịch không có thật thì trang nói là không có, chứ không đưa ngày gần nhất. Năm không nhuận thì không cho chọn tháng nhuận; tháng thiếu 29 ngày thì không có mùng 30. Đây là lý do ô chọn ngày trên trang đổi lịch thay đổi theo tháng bạn chọn.

Trang đổi lịch đổi được mọi ngày từ năm 1900 đến năm 2100; trang ngày chi tiết thì chỉ có cho năm hiện tại và hai năm liền kề. Ngoài khoảng đổi được, trang báo rõ là không hiện kết quả thay vì đoán.

Ngày lễ tết tính thế nào

Mười bảy dịp lễ trên site được định ngày bằng ba lối khác nhau, nên cách kiểm lại cũng khác nhau. Mười một dịp có ngày âm lịch cố định theo quy ước dân gian: Tết Nguyên Đán mùng 1 tháng Giêng, Ngày vía Thần Tài mùng 10 tháng Giêng, Rằm tháng Giêng ngày 15 tháng Giêng, Tết Hàn Thực mùng 3 tháng Ba, Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng Ba, Lễ Phật Đản rằm tháng Tư, Tết Đoan Ngọ mùng 5 tháng Năm, Thất tịch mùng 7 tháng Bảy, Vu Lan và Rằm tháng Bảy ngày 15 tháng Bảy, Tết Trung Thu ngày 15 tháng Tám, Ông Công Ông Táo ngày 23 tháng Chạp. Ngày dương lịch tương ứng của từng năm do máy tính lịch đổi ra, không dòng nào chép tay.

Bốn dịp đi ngược lại: ngày dương lịch mới là ngày cố định, chép thẳng theo văn bản luật — Tết Dương lịch (1/1), Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 (30/4), Quốc khánh 2/9 (2/9), Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 (24/11). Với các dịp này, phần máy tính lịch làm là suy ra thứ trong tuần và ngày âm lịch tương ứng, chứ không phải suy ra ngày dương lịch.

Còn Tết Thanh minh (tiết Thanh minh) thì không cố định ở đâu cả: ngày của nó là hôm kinh độ biểu kiến của mặt trời vượt mốc 15°, tính bằng đúng hàm mà trang ngày dùng để gọi tên tiết khí. Kinh độ mặt trời tính theo công thức của Meeus, như ở mục cách tính lịch âm bên trên.

Riêng Tất niên không có ngày cố định: đó là ngày cuối cùng của tháng Chạp, mà tháng Chạp có năm đủ 30 ngày, có năm chỉ 29. Vì thế có năm không hề có ngày 30 Tết — trang Tất niên ghi rõ từng năm là 29 hay 30 thay vì mặc định 30.

Lịch nghỉ lễ: vì sao có năm chưa có câu trả lời

Bộ luật Lao động 2019 Điều 112 cho người lao động nghỉ 11 ngày hưởng nguyên lương mỗi năm, trong đó hai dịp tính theo âm lịch là Tết Âm lịch (5 ngày) và Giỗ Tổ Hùng Vương (1 ngày). Nhưng khoản 3 của chính điều ấy giao ngày nghỉ cụ thể cho cơ quan quản lý quyết định hằng năm — nghĩa là biết luật vẫn chưa đủ để nói năm sau nghỉ ngày nào. Từ 01/7/2026, Nghị quyết 28/2026/QH16 bổ sung ngày 24/11 (Ngày Văn hóa Việt Nam) là ngày nghỉ hưởng nguyên lương, nằm ngoài danh sách của Điều 112.

Cho nên trang ngày lễ chỉ hiện số ngày nghỉ của năm đã có văn bản công bố. Năm chưa có văn bản, trang ghi thẳng “chưa công bố” chứ không suy ra từ năm trước: ngày nghỉ của năm trước không nói được gì chắc chắn về năm sau.

Còn một giới hạn nữa cần nói rõ: ngày đi làm bù khi có hoán đổi ngày làm việc chỉ có trong văn bản công bố của từng năm; trang ghi đúng theo văn bản ấy, nên nếu có văn bản mới mà trang chưa cập nhật, xin báo cho chúng tôi. Cơ quan công bố hiện nay là Bộ Nội vụ, sau khi Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sáp nhập vào Bộ Nội vụ ngày 01/3/2025.

Từng tầng dẫn sách nào, tấm hay quyển trang nào: xem thứ tự ưu tiên ba bộ sách.

Sách và tài liệu tra cứu

Mục lục các nguồn mà dấu xuất xứ trên site dẫn tới. Ghi chú, đường dẫn tới bản gốc, ngày đăng và ngày đọc lại của từng mục ở trang danh mục nguồn tham khảo.

Những tầng chưa triển khai

Các trang lịch phổ biến ở Việt Nam thường hiện thêm những mục dưới đây. Site giữ chúng ngoài kết luận của trang ngày, lý do ghi ở từng mục.

  • Nhị thập bát tú — chưa triển khai

    Ngọc Hạp Thông Thư có bài ca tốt xấu của hai mươi tám tú (tấm 019–025), mở đầu «Giác Mộc Giao tốt, Cang Kim Long xấu». Tú nào trực ngày nào phải tra từ một bản lịch có sẵn, vì vòng tú chạy liền qua các tháng và cần một điểm neo đã kiểm chứng; nên site để tầng này ngoài kết luận của trang ngày.

  • Sao tốt – sao xấu (cát tinh, hung tinh) — chưa triển khai

    Sao tốt, sao xấu theo tháng có chép trong Ngọc Hạp Thông Thư, ví dụ tấm 034 ghi Tiểu Hồng Sa và Đại Hao là ngày trăm việc đều kiêng. Các lịch đang lưu hành mỗi nơi kê một danh sách sao khác nhau, nên site giữ tầng này ngoài kết luận của trang ngày.

  • Cung phi bát trạch, kim lâu, hoang ốc, tam tai — chưa triển khai

    Các mục này cũng đi theo tuổi nhưng mỗi sách một cách tính, thậm chí lệch nhau cả cung; chúng tôi không đưa chúng vào kết luận của trang ngày. Mỗi khái niệm có một trang riêng dẫn nguồn, bày ra chỗ các cách tính lệch nhau và nói rõ vì sao site không lấy chúng làm một tầng luận ngày.

Xem thêm từ điển thuật ngữ để hiểu từng khái niệm được tính ra sao.