Danh mục nguồn tham khảo
Mỗi mục dưới đây là một chỗ mà dấu xuất xứ trên site dẫn tới: tên sách hoặc văn bản, ghi chú về chỗ được dẫn, đường dẫn tới bản gốc, ngày đăng và ngày đọc lại gần nhất. Bài báo chỉ riêng một trang ngày lễ dẫn thì liệt kê ở cuối chính trang ấy.
Cách tính từng tầng, giới hạn của dữ liệu và những tầng chưa triển khai ghi ở trang nguồn gốc cách tính; tầng nào dẫn sách nào, tấm hay quyển trang nào thì ở trang thứ tự ưu tiên ba bộ sách.
Lịch pháp và thiên văn
Hồ Ngọc Đức (thuật toán lịch âm Việt Nam, bản mô tả quy tắc) (www.xemamlich.uhm.vn)
Bản mô tả quy tắc bằng tiếng Anh, ghi rõ mọi tính toán dựa trên kinh tuyến 105°Đ (UTC+7). Trang gốc tại Đại học Leipzig hiện không truy cập được; đây là bản sao lưu vẫn truy cập được. (Đọc lại 28/9/2026.)
Hồ Ngọc Đức, “Âm lịch Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử” (bài tổng thuật, dựa trên nghiên cứu «Lịch và lịch Việt Nam» của Hoàng Xuân Hãn) (www.xemamlich.uhm.vn)
Bài thuật lại âm lịch dùng ở Việt Nam qua từng thời kỳ. Về thời hai miền chia cắt (1955–1975), bài viết: «Ở miền Bắc dùng múi giờ thứ 8 tới năm 1967 và múi giờ thứ 7 từ 1968 trở đi. Tại miền Nam sử dụng múi giờ thứ 8. Từ 1976 trở đi: Cả nước Việt Nam tính lịch âm theo múi giờ thứ 7.» Hai mốc 1968 và 1976 trong ghi chú của trang đổi lịch lấy từ câu ấy; toàn văn Quyết định 121-CP (8/8/1967) không có trên kho văn bản của Chính phủ (xem mục ngay dưới). (Đọc lại 28/9/2026.)
Thanh Niên (Quý Hiên, “Chuyên gia chia sẻ về những 'rối rắm' của việc tính ngày âm lịch”) (thanhnien.vn)
Bài phỏng vấn ông Trần Tiến Bình, nguyên cán bộ Phòng Nghiên cứu lịch (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam): «Điều này dựa trên Quyết định số 121-CP ngày 8.8.1967 do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quy định múi giờ chính thức của nước ta là múi giờ thứ 7 và âm lịch sử dụng ở Việt Nam được tính theo múi giờ chính thức này.» — «mùng 1 tết Nguyên đán Mậu Thân 1968 tại Việt Nam sớm hơn Trung Quốc 1 ngày.» Đây là lời một bài báo thuật lại, không phải văn bản quyết định; kho văn bản của Chính phủ chỉ có Quyết định 134/2002/QĐ-TTg sửa Điều 1 của nó (liên kết bên dưới), và điều ấy chỉ quy định giờ chính thức, không nói cách tính âm lịch. Site không dựa riêng vào bài này cho kết luận nào. (Đăng 29/1/2024, đọc lại 28/9/2026.)
Jean Meeus ("Astronomical Algorithms", ấn bản thứ hai, Willmann-Bell, ISBN 978-0-943396-61-3)
Chương 7 (ngày Julius); chương 25 (vị trí mặt trời) theo lối độ chính xác cao của chương ấy: kinh độ nhật tâm của Trái Đất tính bằng chuỗi VSOP87 (mục ngay dưới), rồi hiệu chỉnh về hệ FK5, cộng chương động theo chương 22 và quang sai; chương 49 (thời điểm sóc, vọng và hai pha huyền). Đây là công thức thiên văn tiêu chuẩn, dùng để tính sóc và trung khí trước khi áp quy tắc lịch.
VSOP87 (P. Bretagnon, G. Francou, “Planetary theories in rectangular and spherical variables. VSOP 87 solutions”, Astronomy and Astrophysics 202, 309–315, 1988) (cdsarc.cds.unistra.fr)
Lời giải giải tích cho chuyển động các hành tinh của Bureau des Longitudes (Paris). Site dùng bản VSOP87D — tọa độ cầu nhật tâm theo hoàng đạo và điểm xuân phân của ngày — cho Trái Đất, tệp VSOP87D.ear trong danh mục VI/81 của trung tâm dữ liệu thiên văn CDS (Strasbourg), mô tả tệp ghi «Earth Heliocentric spherical var. of date». Từ chuỗi kinh độ của tệp ấy, site giữ các số hạng có biên độ từ 5×10⁻⁷ radian trở lên; phần bỏ đi làm kinh độ mặt trời sai không quá khoảng một giây cung trong 1900–2100, tức dưới nửa phút về giờ giao tiết. (Đọc lại 28/9/2026.)
NAOJ (Đài Thiên văn Quốc gia Nhật Bản), bảng hai mươi bốn tiết khí từng năm — 暦要項 (eco.mtk.nao.ac.jp)
Bảng chính thức giờ giao tiết, giờ Nhật (UTC+9). Site dùng bản 2025, 2026, 2027 (đường dẫn là bản 2026) đổi sang giờ Việt Nam để đo giờ giao tiết của mình; độ lệch ghi trên trang tháng, trang ngày của từng năm. Cùng bộ 暦要項 có mục 朔弦望 — giờ sóc, thượng huyền, vọng, hạ huyền (liên kết bên dưới là bản 2026, công bố 3/2/2025; bản 2027 công bố 2/2/2026): site đối chiếu giờ bốn pha trong bảng pha Mặt Trăng của trang tháng năm 2026 và 2027 với mục ấy, lệch không quá 1 phút. (Đọc lại 28/9/2026.)
Ba bộ sách chọn ngày
Ngọc Hạp Thông Thư (bản khắc Quảng Thịnh Đường, 1920) (lib.nomfoundation.org)
Tăng bổ tuyển trạch thông thư Quảng Ngọc Hạp Ký 增補選擇通書廣玉匣記: sách biên soạn đời Thanh (tựa năm Khang Hy Giáp Tý 1684, Vương Tướng), khắc in tại Việt Nam — bản Quảng Thịnh Đường 1920, Thư viện Quốc gia Việt Nam, ký hiệu NLVNPF-0422, số hóa đủ 120 tấm trên Nôm Foundation, viết bằng chữ Hán. Chỗ dẫn trên site ghi số tấm quét (001–120), không phải số tờ in trên bản khắc. (Đọc lại 28/9/2026.)
Hiệp Kỷ Biện Phương Thư (bản chép Tứ khố toàn thư) (archive.org)
Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư 欽定協紀辨方書 — sách chọn ngày triều Thanh sai soạn năm Càn Long thứ 6 (1741), 36 quyển. Site đọc bản chép tay Tứ khố toàn thư số hóa trên Internet Archive (đường dẫn mở quyển 1) và ghi số quyển, số trang của tệp quét ở mỗi chỗ dẫn. Bản dịch tiếng Việt chỉ để tham khảo: lời dịch là của người dịch, không phải chữ của sách.
Đổng Công Tuyển Trạch Nhật Yếu Dụng (bản dịch Lê Văn Sửu) (www.lyhoclacviet.vn)
Mục này trỏ trang giới thiệu bản dịch tiếng Việt của ông Lê Văn Sửu trên Lý học Lạc Việt. Trang giới thiệu chỉ nói về sách, không chép quy tắc chọn ngày nào; ba phần dịch theo tháng mà nó trỏ tới (tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba) đều không mở được. Vì vậy chưa tầng nào trên site dẫn cuốn này, và các tầng như Tam Nương, Nguyệt kỵ chưa đối chiếu được với nó. (Đăng 18/1/2010, đọc lại 28/9/2026.)
Văn bản pháp luật và lịch nghỉ
Bộ luật Lao động 2019, Điều 112 — nghỉ lễ, tết (datafiles.chinhphu.vn)
Điều 112 cho người lao động nghỉ 11 ngày hưởng nguyên lương mỗi năm: Tết Dương lịch 1 ngày (01/01), Tết Âm lịch 5 ngày, Ngày Chiến thắng 1 ngày (30/4), Ngày Quốc tế lao động 1 ngày (01/5), Quốc khánh 2 ngày (02/9 và một ngày liền kề trước hoặc sau), Giỗ Tổ Hùng Vương 1 ngày (mùng 10 tháng Ba âm lịch). Khoản 3 chỉ giao cho Thủ tướng quyết định hằng năm ngày nghỉ cụ thể của điểm b (Tết Âm lịch) và điểm đ (Quốc khánh) — bốn dịp còn lại đã ấn định sẵn trong luật nên không cần văn bản hằng năm. Ngày lễ trùng ngày nghỉ hằng tuần thì được nghỉ bù vào ngày làm việc kế tiếp, theo Điều 111 khoản 3. Từ 01/7/2026, Nghị quyết 28/2026/QH16 bổ sung ngày 24/11 (Ngày Văn hóa Việt Nam) là ngày nghỉ hưởng nguyên lương, nằm ngoài danh sách của Điều 112. Nguồn chính là bản ký số của Luật 45/2019/QH14 đăng trên kho văn bản của Chính phủ; Điều 112 nằm ở trang 41–42. Tệp ấy là bản quét không tìm chữ được, nên bên dưới có thêm một bản sao dễ đọc — bản sao chỉ để tiện tra, căn cứ vẫn là tệp của Chính phủ. (Đọc lại 20/9/2026.)
Bộ luật Lao động 2019, Điều 113 — nghỉ hằng năm (datafiles.chinhphu.vn)
Điều 113 khoản 1 cho người lao động làm đủ 12 tháng được nghỉ hằng năm hưởng nguyên lương: 12 ngày làm việc với công việc trong điều kiện bình thường, 14 ngày với lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật và nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, 16 ngày với nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Đây là ngày phép của riêng từng người, khác hẳn ngày nghỉ lễ của Điều 112 vốn áp cho mọi người cùng một ngày. Nguồn là bản ký số của Luật 45/2019/QH14 trên kho văn bản của Chính phủ; Điều 113 nằm ở trang 42. (Đọc lại 21/9/2026.)
Bộ luật Lao động 2019, Điều 115 — nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương (datafiles.chinhphu.vn)
Khoản 1 và 2 kể các trường hợp nghỉ việc riêng (kết hôn, tang) có hoặc không hưởng lương. Khoản 3: ngoài hai khoản ấy, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương — tức là phải có thỏa thuận, không phải quyền tự nghỉ. Điều 115 nằm ở trang 43 của bản ký số Luật 45/2019/QH14 trên kho văn bản của Chính phủ. (Đọc lại 24/9/2026.)
Bộ luật Lao động 2019, Điều 98 — tiền lương làm thêm giờ (datafiles.chinhphu.vn)
Điều 98 khoản 1 điểm c: làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương thì được trả ít nhất bằng 300% đơn giá tiền lương, chưa kể tiền lương ngày lễ với người hưởng lương ngày. Khoản 1 điểm a và b ghi mức 150% cho ngày thường và 200% cho ngày nghỉ hằng tuần, nên con số 300% chỉ dành riêng cho ngày nghỉ lễ. Nguồn là bản ký số của Luật 45/2019/QH14 trên kho văn bản của Chính phủ; Điều 98 nằm ở trang 37. (Đọc lại 21/9/2026.)
Hiến pháp năm 2013, Điều 13 khoản 4 — Quốc khánh (datafiles.chinhphu.vn)
Khoản 4 viết nguyên văn: “Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.” Đây là chỗ duy nhất trong hệ thống văn bản ấn định ngày Quốc khánh, còn Bộ luật Lao động chỉ nói số ngày được nghỉ. Bản dẫn là bản ký số đăng trên kho văn bản của Chính phủ; Điều 13 nằm ở trang 4. Site chỉ dẫn phần ấn định ngày, không thuật lại diễn biến lịch sử của ngày Tuyên ngôn độc lập. (Đọc lại 20/9/2026.)
Nghị quyết 28/2026/QH16 (Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam) (vanban.chinhphu.vn)
Có hiệu lực từ 01/7/2026. Điều 2 khoản 1: «Ngày 24 tháng 11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam; người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.» Ngày này nằm ngoài danh sách của Bộ luật Lao động 2019 Điều 112, nên các bảng ngày nghỉ trên site ghi riêng căn cứ của nó từ năm 2026. Nghị quyết không quy định việc nghỉ bù khi ngày ấy trùng ngày nghỉ hằng tuần, nên site không suy ra. (Đăng 24/4/2026, đọc lại 28/9/2026.)
Công bố lịch nghỉ lễ của từng năm
Vì Điều 112 giao ngày nghỉ cụ thể cho cơ quan quản lý quyết định từng năm, trang ngày lễ chỉ hiện lịch nghỉ khi năm ấy đã có văn bản công bố; năm chưa có văn bản thì ghi thẳng là chưa công bố, không suy ra từ năm trước. Khoản 3 chỉ nhắc Tết Âm lịch và Quốc khánh, nên chỉ hai dịp ấy bắt buộc phải chờ văn bản. Bốn dịp còn lại — 01/01, 30/4, 01/5 và mùng 10 tháng Ba — đã có ngày sẵn trong luật; có năm Bộ Nội vụ vẫn ra công văn nói rõ có hoán đổi hay không, và khi ấy trang ghi theo công văn. Cơ quan công bố nay là Bộ Nội vụ, sau khi Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sáp nhập vào Bộ Nội vụ ngày 01/3/2025. Ngày đi làm bù (nếu có) chỉ có trong văn bản công bố của từng năm, nên trang ghi đúng theo văn bản ấy. Bản dự thảo hay phương án đang lấy ý kiến thì không tính là văn bản công bố: trang vẫn ghi chưa công bố và chỉ thuật lại phương án ấy trong một mục riêng, nói rõ đó mới là đề xuất. Toàn văn Thông báo 9441/TB-BNV và Công văn 3383/BNV-CVL không có trên kho văn bản của Chính phủ lẫn cổng Bộ Nội vụ: bản thứ nhất dẫn trang văn bản trên cổng Kiểm toán nhà nước, nơi có đính kèm tệp văn bản; bản thứ hai dẫn tin của chính Bộ Nội vụ về công văn ấy. Thông báo 12590/TB-BNV về Tết Dương lịch 2026 cũng không có toàn văn ở hai nơi ấy, còn Báo Chính phủ (25/12/2025) đăng nội dung mà không ghi số văn bản; nên liên kết dẫn thông báo ngày 26/12/2025 của UBND thành phố Đà Nẵng, nơi ghi số, ngày của thông báo và chép lại lịch hoán đổi — đó là bản dẫn lại, không phải toàn văn.
- Thông báo 9441/TB-BNV của Bộ Nội vụ về nghỉ Tết Âm lịch và nghỉ lễ Quốc khánh năm 2026
- Công văn 3383/BNV-CVL của Bộ Nội vụ về lịch nghỉ Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 1/5 năm 2026 — theo tin đăng trên cổng thông tin Bộ Nội vụ
- Thông báo 12590/TB-BNV của Bộ Nội vụ về Tết Dương lịch 2026 — bản dẫn lại của UBND TP Đà Nẵng, không phải toàn văn
Phương án nghỉ lễ trước khi có văn bản công bố
Trước khi có thông báo chính thức, Bộ Nội vụ thường lấy ý kiến các bộ, ngành về các phương án nghỉ rồi trình Chính phủ; Thủ tướng quyết định, sau đó Bộ Nội vụ mới ban hành thông báo. Trang ngày lễ thuật lại từng bước ấy trong một mục riêng, mỗi bước ghi ngày, cơ quan và bài dẫn, và nói rõ đó chưa phải lịch nghỉ: mục lịch nghỉ vẫn ghi «chưa công bố» cho tới khi có văn bản ở mục ngay trên. Bước lấy ý kiến dẫn tin của chính Bộ Nội vụ trên cổng thông tin của Bộ, kèm bài cùng ngày của Báo Chính phủ. Tờ trình Chính phủ không được công bố số hiệu hay toàn văn, nên bước trình Chính phủ dẫn bài của Báo Chính phủ thuật lại lời đại diện Bộ Nội vụ tại họp báo ngày ấy. (Đọc lại 29/9/2026.)
- Bộ Nội vụ, 5/8/2026 — «Bộ Nội vụ đề xuất nghỉ 04 ngày dịp Ngày Văn hóa Việt Nam 2026 và 07 ngày liên tục dịp Tết Âm lịch 2027» (cổng thông tin Bộ Nội vụ)
- Báo Chính phủ, 5/8/2026 — «Đề xuất 2 phương án nghỉ Tết Nguyên đán 2027: Nghỉ 7 ngày hoặc 10 ngày liên tục»
- Báo Chính phủ, 11/9/2026 — «Thống nhất trình Chính phủ phương án nghỉ Tết Nguyên đán 2027 trong 7 ngày liên tục»
Ngày lễ và phong tục
Ngày âm lịch cố định của các dịp lễ tết (github.com)
Tết Nguyên Đán (mùng 1 tháng Giêng) và Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng Ba) có ngày âm lịch ghi thẳng trong văn bản pháp luật — Nghị định 145/2013/NĐ-CP, Điều 4 — nên trang của hai dịp ấy dẫn văn bản đó, và bảng dưới đây chỉ là đối chiếu phụ. Các dịp âm lịch còn lại theo quy ước dân gian đã ổn định. Bảng ngày lễ Việt Nam trong thư viện `date-holidays` — nguồn máy đọc được — ghi rõ ngày âm lịch của Tết Nguyên Đán (1-1), Rằm tháng Giêng (1-15), Giỗ Tổ Hùng Vương (3-10), Lễ Phật Đản (4-15), Tết Đoan Ngọ (5-5), Rằm tháng Bảy Vu Lan (7-15), Tết Trung Thu (8-15) và Ông Táo chầu trời (12-23). Bốn dịp không nằm trong bảng ấy — ngày vía Thần Tài (mùng 10 tháng Giêng), Tết Hàn Thực (mùng 3 tháng Ba), Thất tịch (mùng 7 tháng Bảy) và Tất niên (ngày cuối tháng Chạp) — là ngày theo tục đã ổn định; trang của từng dịp dẫn báo chí trong nước cho phần tục lệ. Ngày dương lịch tương ứng của từng năm do chính máy tính lịch của site đổi ra, không chép tay.
Phong tục từng dịp lễ — báo chí trong nước
Phần mô tả tập tục và cách sắm lễ trên các trang ngày lễ lấy theo báo chí trong nước và văn bản của cơ quan, tổ chức, không lấy từ trang bói toán. Mỗi bước, mỗi đoạn dẫn bài của riêng nó: tên báo, ngày đăng và tác giả liệt kê ở khối «Bài báo và văn bản dẫn trên trang này» cuối trang của từng dịp, dấu xuất xứ cạnh đoạn văn trỏ thẳng tới đó. Chi tiết nào không tìm được bài có ngày đăng ghi đúng như vậy thì không viết. Chúng tôi chỉ thuật lại việc chuẩn bị theo lối làm phổ biến, không hứa hẹn kết quả và không xếp ngày lễ thành tốt hay xấu.
Thanh Niên (Vũ Phượng, “Tiết Thanh minh: Vì sao người Việt chỉ tảo mộ, không du xuân như Trung Quốc?”) (thanhnien.vn)
Bài có phỏng vấn TS Dương Hoàng Lộc, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo – Đạo đức, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP.HCM). Chúng tôi lấy từ bài này ba điều: Thanh minh có gốc Trung Quốc và gắn với thời tiết vào xuân; ở Trung Quốc có cả tảo mộ lẫn đạp thanh còn ở Việt Nam hầu như chỉ còn phần tảo mộ; lễ vật khác nhau theo vùng và cộng đồng người Hoa ở Tây Nam Bộ giữ nét Thanh minh đậm hơn. Bài còn một đoạn giải thích theo hà đồ và âm khí dương khí — chúng tôi không thuật lại, vì site không đưa nội dung phong thủy. (Đăng 4/4/2026, đọc lại 28/9/2026.)
Tục chọn ngày, xem tuổi: sách phong tục, báo và tạp chí
Phan Kế Bính, “Việt Nam phong tục” (1915), mục Xem ngày kén giờ (vi.wikisource.org)
Bản số hóa toàn văn trên Wikisource tiếng Việt. Mục này chép tên ngày sát chủ và ngày thọ tử trong đúng một câu: “Kiêng nhất là ngày sát chủ, ngày thọ tử, việc gì cũng phải tránh.” Bản gốc KHÔNG kèm bảng tra theo tháng, nên bảng tra không phải chữ của Phan Kế Bính. (Đọc lại 28/9/2026.)
Chú giải bài “Xem ngày kén giờ” của Phan Kế Bính (sách “Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam”) (www.sachhayonline.com)
Bản chú giải đời sau, không ghi tên người chú giải — nguồn dân gian, nên site dẫn kèm nhãn «theo tục». Mục «Các sao xấu» chép «6 ngày tam nương là ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27» và mười hai Chi ngày thọ tử (sách viết «thụ tử») theo tháng: Tuất, Thìn, Hợi, Tị, Tý, Ngọ, Sửu, Mùi, Dần, Thân, Mão, Dậu — dãy rút được thành quy tắc. Dãy sát chủ cùng chỗ không khớp các bảng đang lưu hành nên site không dựng bảng. (Đọc lại 27/9/2026.)
Tân Việt, “Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam” (NXB Văn hóa dân tộc), mục 112 «Cách tính ngày hoàng đạo, hắc đạo?» (www.sachhayonline.com)
Sách phổ thông về phong tục viết dạng hỏi đáp, không phải sách chọn ngày cổ. Bản đăng lại trên SachHayOnline không ghi tên tác giả; tên Tân Việt và nhà xuất bản ở đây suy theo tên sách, khớp với thư mục Thư viện tỉnh Quảng Ninh («Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam / Tân Việt», tái bản có sửa chữa và bổ sung, NXB Văn hóa dân tộc, 1997). Mục 112 có «Bảng kê ngày hoàng đạo, hắc đạo theo lịch can chi từng tháng», cột đầu là «Tháng âm lịch», và câu «Ngày hoàng đạo của tháng giêng và tháng 7 âm lịch là những ngày tý, sửu, tị, mùi» — tức bảng xếp theo tháng âm lịch, tính từ mùng Một. Bảng chỉ kê bốn trong sáu Chi mỗi cột và không ghi tên thần, nên không tra ra được thần trực nhật của một ngày; nhiều Chi không có mặt trong bảng. Bảng còn có hai chỗ vênh: hàng tháng Ba – tháng Chín xếp Chi Hợi vào cả cột hoàng đạo lẫn cột hắc đạo, hàng tháng Tư – tháng Mười cũng vậy với Chi Dậu. Site chỉ nhắc sách này ở lời dị thuyết về mốc tháng, không dẫn nó làm căn cứ cho kết luận nào. (Đọc lại 28/9/2026.)
VnExpress (Phạm Đình Hải, “Tuổi kim lâu có làm nhà được không?”) (vnexpress.net)
Bài có ký tên, kể bốn cách tính kim lâu: hai cách dân gian, cách thứ ba theo Thông thư nhưng tác giả cho là hiểu nhầm hoặc dịch sai, và cách thứ tư theo Thông thư kết hợp phong thủy — cách tác giả cho là đúng. Bảng của site theo cách thứ nhất vì ai cũng chia lại được; ba cách kia thuật trên trang. (Đăng 13/6/2022, đọc lại 28/9/2026.)
VnExpress (Hải Hiền, “Bi hài xem tuổi làm nhà”) (vnexpress.net)
Bài dẫn lời nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) cho rằng tục xem tuổi làm nhà không phải văn hóa truyền thống và không có cơ sở khoa học. Chúng tôi dẫn bài này ở phần ý kiến ngược của các trang kim lâu và hoang ốc. (Đăng 10/1/2023, đọc lại 28/9/2026.)
VietNamNet (Hồng Khanh, “Tuổi phạm Hoang ốc, có nên xây nhà năm 2024?”) (vietnamnet.vn)
Bài có ký tên, chép phép bấm sáu cung trên đốt tay: mỗi mốc tròn chục khởi một đốt (10 tuổi ở Nhất Cát, 20 ở Nhị Nghi, 30 ở Tam Địa Sát…) rồi đếm tiếp từng tuổi lẻ, kèm ví dụ tuổi 36. Site dùng đúng phép bấm này. (Đăng 11/2/2024, đọc lại 28/9/2026.)
Tuổi Trẻ (Ngọc Sương, “‘Xem tuổi xây nhà’ dưới góc nhìn phong thủy khoa học”) (tuoitre.vn)
Hai chuyên gia phong thủy trong bài cho rằng tuổi gia chủ chỉ là phần nhỏ, phải xét đất và tọa hướng trước, «tuổi nào cũng làm được nhà» — phản bác từ bên trong phong thủy, không phải ý kiến khoa học. (Đăng 8/12/2018, đọc lại 28/9/2026.)
Giác Ngộ (Tổ Tư vấn, “Tam tai & cúng giải hạn tam tai?”) (giacngo.vn)
Giác Ngộ Online là cơ quan ngôn luận của Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP.HCM, báo có giấy phép hoạt động báo chí; bài đăng ở mục Tư vấn, ký «Tổ Tư vấn». Bài phân biệt tam tai trong kinh điển Phật giáo (ba tai lớn của chu kỳ thành – trụ – hoại – không) với tam tai theo lối dân gian tính theo tuổi, và nói rõ người theo đạo Phật có chánh kiến thì không trông cậy vào việc cúng để đổi vận. Chúng tôi dẫn ở phần ý kiến ngược của trang tam tai. (Đăng 19/7/2017, đọc lại 28/9/2026.)
Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số tháng 5/2017 (Thích Nhật Quang, “Cúng Tam Tai, hiểu sao cho đúng?”; ISSN 2734-9195) (tapchinghiencuuphathoc.vn)
Tạp chí có mã số chuẩn quốc tế. Bài truy nguồn gốc tục tính tam tai theo tuổi: phần ba tai là chữ của kinh điển, phần chín ngôi sao và việc cúng là lớp Đạo giáo chồng lên sau, và ở Việt Nam hai lớp ấy trộn vào nhau khoảng thời tam giáo đồng nguyên. Đây là nguồn nói được lịch sử của tục, chứ không phải nguồn dạy cách tính. (Đọc lại 28/9/2026.)
Tạp chí Hán Nôm số 1(80)/2007 (Nguyễn Công Việt, “Sơ lược về nhị thập bát tú trong tài liệu lịch pháp Hán Nôm”; Viện Nghiên cứu Hán Nôm) (nghiencuulichsu.com)
Đường dẫn gốc của Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện không mở được, nên chúng tôi ghi theo tác giả, tên tạp chí và số phát hành, còn đường dẫn bên dưới là một bản đăng lại đọc được. Bài cho biết hai mươi tám tú được ghi trực nhật nối nhau liên tục trong lịch Hán Nôm, không ngắt theo tháng, và bài không đưa ra công thức nào để tự tính lấy. (Đọc lại 28/9/2026.)
Hội Thiên văn và Vũ trụ học Việt Nam (VACA; Bùi Dương Hải, “Nhị thập bát tú”) (thienvanvietnam.org)
Bài của Bùi Dương Hải trên trang của một hội chuyên môn về thiên văn, loạt «Thiên văn học phương Đông». Bài viết «Khu vực dải nằm giữa con đường mà mặt trăng đi qua ban đêm và mặt trời đi qua ban ngày được phân chia theo 28 chòm – 28 Tòa nhà của sao, tức Nhị thập bát Tú», sao chủ của mỗi chòm «là ngôi nằm gần nhất Bạch đạo», và hai mươi tám tú chia bốn cung, mỗi cung bảy chòm. Bài dừng ở lớp thiên văn và không gán ngày nào cho tú nào — chúng tôi dừng đúng ở chỗ nguồn dừng. (Đọc lại 28/9/2026.)
Cổng thông tin Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Hà An, “Dâng sao giải hạn: Mê tín, không đúng giáo lý nhà Phật”) (bvhttdl.gov.vn)
Bài tin có ký tên phóng viên, không phải văn bản Bộ ban hành. Bài dẫn ý kiến nhà nghiên cứu và Hòa thượng Thích Gia Quang: cúng sao giải hạn không có trong giáo lý nhà Phật. Site không kèm cách làm lễ nào. (Đăng 18/2/2019, đọc lại 28/9/2026.)
Thanh Niên (Trinh Nguyễn, “Giáo hội Phật giáo yêu cầu không để xảy ra trục lợi dâng sao giải hạn”) (thanhnien.vn)
Bài đăng công văn năm 2019 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam về lễ cầu an. Công văn viết nghi lễ dâng sao giải hạn «không phải là nghi lễ của Phật giáo, mà là tư tưởng triết học của Lão Giáo» hòa vào Phật giáo, và yêu cầu các chùa không để trục lợi. Site dẫn qua bản đăng có ký tên trên Thanh Niên. (Đăng 20/2/2019, đọc lại 28/9/2026.)
VnExpress (Phạm Đình Hải, “Dâng sao, giải hạn đầu năm 2023 thế nào cho đúng?”) (vnexpress.net)
Bài có ký tên, chép lại cách người ta tính ngôi sao ứng với một tuổi: rút tuổi mụ về một chữ số rồi đối chiếu với dãy chín sao, dãy của nam và dãy của nữ khác nhau. Chúng tôi thuật lại cách tính ấy bằng lời để bạn đọc hiểu người ta làm thế nào, và không dựng bảng tra trên trang. (Đăng 23/1/2023, đọc lại 28/9/2026.)