Ngày thọ tử là gì?
Ngày thọ tử là một ngày kiêng theo tục, mỗi tháng âm lịch ứng với một Chi ngày cố định; Việt Nam phong tục năm 1915 xếp nó cùng ngày sát chủ vào nhóm kiêng nhất.
Site không dùng ngày thọ tử để luận ngày. Bản in năm 1915 chỉ nêu cái tên trong một câu liệt kê, còn dãy Chi theo từng tháng nằm trong bảng của sách chọn ngày chữ Hán. Bảng bên dưới trải sẵn phép đếm ấy cho bạn kiểm lại, nhưng nó đứng riêng ở trang này và không đi vào kết luận nào khác của site.
Chi ngày thọ tử của từng tháng âm lịch
Thọ tử là một ngày kiêng đi theo tháng âm lịch: mỗi tháng ứng với đúng một Chi ngày, và mọi ngày mang Chi ấy trong tháng ấy đều được kể là ngày thọ tử. Vì một Chi quay lại sau mười hai ngày nên một tháng âm lịch thường có hai tới ba ngày như vậy.
Bản chú giải bài Xem ngày kén giờ của Phan Kế Bính chép mười hai Chi theo thứ tự từ tháng Giêng tới tháng Chạp: Tuất, Thìn, Hợi, Tị, Tý, Ngọ, Sửu, Mùi, Dần, Thân, Mão, Dậu. Nhìn qua thì đây là một dãy rời rạc phải học thuộc, nhưng tách ra theo tháng lẻ và tháng chẵn thì nó gọn lại ngay.
Các tháng lẻ đi liền một mạch từ Tuất: tháng Giêng Tuất, tháng Ba Hợi, tháng Năm Tý, tháng Bảy Sửu, tháng Chín Dần, tháng Một Mão. Các tháng chẵn cũng đi liền một mạch nhưng khởi từ Thìn: tháng Hai Thìn, tháng Tư Tị, tháng Sáu Ngọ, tháng Tám Mùi, tháng Mười Thân, tháng Chạp Dậu. Hai dãy song song và cách nhau đúng sáu ngôi.
Rút ra được quy tắc thì không cần chép bảng nữa. Site viết thẳng quy tắc ấy vào tầng tính, nên bảng bên dưới do máy sinh ra chứ không phải một bảng gõ tay có thể sai một dòng mà không ai hay. Bạn cũng đối chiếu lại được với bản chú giải trong vài giây, vì hai dãy tháng lẻ và tháng chẵn rất dễ kiểm.
Bảng bên dưới đi thêm một bước nữa so với những bảng thường gặp: ngoài Chi ngày, nó liệt kê luôn những ngày dương lịch rơi đúng vào Chi ấy trong từng tháng âm lịch của năm đang chạy. Phần ngày dương lịch do chính máy tính lịch của site đổi ra theo giờ Việt Nam, nên sang năm bảng tự đổi và không bao giờ đứng lại ở một năm cũ như các bảng chép tay.
Bản gốc năm 1915 viết gì, và không viết gì
Trong sách quốc ngữ, tên ngày thọ tử có ở mục Xem ngày kén giờ trong Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, in năm 1915. Nguyên văn rất ngắn, chỉ một câu: kiêng nhất là ngày sát chủ, ngày thọ tử, việc gì cũng phải tránh. Hết. Câu ấy nằm giữa một đoạn kể các thứ người ta kiêng khi chọn ngày.
Điều đáng nói nằm ở chỗ bản gốc không kèm theo bất kỳ bảng tra nào. Phan Kế Bính nêu tên hai ngày kiêng và dừng lại; ông không cho biết tháng nào ứng với Chi nào. Bảng tra ta gặp hôm nay không phải chữ của ông.
Bảng ấy có trong sách chọn ngày chữ Hán. Một bộ sách cổ site dựa vào — tên sách và số tấm ghi ở dòng xuất xứ cuối mục này — có bảng hung tinh theo tháng, trong đó một cột in «thụ tử, trăm việc đều kiêng, nên săn bắt» kèm mười hai Chi từ tháng Giêng tới tháng Chạp: Tuất, Thìn, Hợi, Tỵ, Tý, Ngọ, Sửu, Mùi, Dần, Thân, Mão, Dậu (Lịch Vàng dịch). Dãy ấy trùng từng Chi với dãy của bản chú giải và với bảng bên dưới.
Xuất xứ câu trích: Ngọc Hạp Thông Thư (bản khắc Quảng Thịnh Đường, 1920), tấm 033
Viết thọ tử hay thụ tử
Bạn sẽ gặp cả hai lối viết. Bản chú giải bài Xem ngày kén giờ ghi là thụ tử, trong khi cách gọi phổ biến trên các trang lịch hiện nay là thọ tử. Đây là hai lối đọc của cùng một chữ Hán, không phải hai ngày khác nhau, và dãy mười hai Chi đi kèm giống hệt nhau ở cả hai lối viết.
Chúng tôi đặt tên trang theo lối viết thọ tử vì đó là dạng người đọc tiếng Việt hôm nay gõ nhiều hơn, nhưng ghi nhận lối viết thụ tử ngay trong phần nguồn để ai cầm bản chú giải trong tay cũng nhận ra mình đang đọc cùng một thứ.
Vì sao trang ngày của site không có dòng thọ tử
Nghe qua thì tầng này có vẻ đủ điều kiện: quy tắc rõ, rút được thành công thức, và dãy mười hai Chi có trong sách chọn ngày ở mục trên. Site vẫn để nó ngoài kết luận của trang ngày, vì một lý do thuộc về giọng của site.
Đây là một ngày kiêng gắn với chuyện tang ma và cái chết, và một dòng chữ đặt lên trang của một ngày cụ thể sẽ đọc như một lời phán về ngày ấy. Chúng tôi chọn giải thích tập tục ở đây, có nguồn, có bảng đếm lại được, và không đem nó ra kết luận về ngày của bất kỳ ai.
Những tầng site cố ý để trống và lý do từng tầng được liệt kê đầy đủ ở trang nguồn gốc và cách tính.
Vì sao một tháng có hai hoặc ba ngày thọ tử
Chi của ngày chạy theo vòng mười hai, nối nhau liên tục không ngắt khi sang tháng. Một tháng âm lịch dài hai mươi chín hoặc ba mươi ngày, tức dài hơn hai vòng mười hai ngày một chút, nên một Chi bất kỳ sẽ rơi vào tháng ấy hai hoặc ba lần. Đó là lý do cột cuối của bảng thường liệt kê hai tới ba ngày cho mỗi tháng.
Số lượng ấy phụ thuộc vào chỗ tháng âm lịch bắt đầu rơi vào đâu trong vòng Chi. Tháng nào khởi đầu ngay trước Chi thọ tử thì gặp ba lần; tháng khởi đầu ngay sau thì chỉ gặp hai. Không có quy luật cố định theo tên tháng, phải tính từng năm — và đó chính là việc mà một bảng chép tay không làm được còn tầng tính của site thì làm tự động.
Cũng vì Chi ngày không ngắt theo tháng nên ngày cuối tháng này và ngày đầu tháng sau có thể mang hai Chi liền nhau mà lại thuộc hai kết luận khác hẳn, do tháng đổi thì Chi thọ tử cũng đổi. Đây là đặc điểm chung của cả họ ngày kiêng tính theo tháng, không riêng gì thọ tử.
Cách đối chiếu lại bảng này bằng tay
Bạn không cần tin bảng. Với một ngày bất kỳ, việc thứ nhất là đổi nó sang âm lịch để biết đang ở tháng âm lịch nào, việc thứ hai là tra Can Chi của chính ngày ấy. Trang một ngày của site hiện đủ cả hai thứ ngay đầu trang.
Việc thứ ba là áp quy tắc: tháng lẻ thì đếm từ Tuất, tháng chẵn thì đếm từ Thìn, mỗi lần tăng hai tháng thì Chi tiến một ngôi. Tháng Bảy là tháng lẻ thứ tư nên Chi lùi ba ngôi từ Tuất, ra Sửu. Đối chiếu Chi vừa tính với Chi của ngày là xong.
Nếu kết quả bạn tính khác với bảng thì một trong hai bên sai, và cả hai bên đều truy lại được tới từng bước. Chúng tôi giữ nguyên tắc ấy cho mọi bảng trên site: thà bày ra quy tắc để bị bắt lỗi, còn hơn đưa một con số không ai kiểm được.
Thọ tử và sát chủ đi cùng nhau trong một câu, nhưng số phận khác nhau
Phan Kế Bính nhắc hai cái tên trong cùng một câu và đặt chúng ngang hàng. Thế nhưng khi đối chiếu các bản chú giải và các bảng đang lưu hành, hai ngày này rơi vào hai tình cảnh rất khác nhau. Dãy mười hai Chi của ngày thọ tử khớp nhau giữa bản chú giải và bảng in trong sách chọn ngày, và còn rút ra được quy tắc.
Dãy của ngày sát chủ thì không. Bản chú giải và các bảng đang lưu hành chỉ trùng nhau ở tháng Giêng rồi tách ra suốt mười một tháng còn lại, và không có quy tắc nào rút ra được từ dãy ấy. Vì vậy trang ngày sát chủ của site cố ý không có bảng — nó chỉ kể lại việc các bản chép khác nhau, mà tự việc ấy đã là một thông tin đáng biết.
Chi ngày thọ tử của mười hai tháng âm lịch
Cột Chi do quy tắc tháng lẻ khởi từ Tuất và tháng chẵn khởi từ Thìn sinh ra, đối chiếu được với dãy mười hai Chi của bảng hung tinh theo tháng ghi ở dòng căn cứ dưới bảng. Cột ngày dương lịch do máy tính lịch của site đổi theo giờ Việt Nam cho năm âm lịch đang chạy. Tháng trong bảng là tháng âm lịch, tính từ mùng Một, như bản chú giải ghi; bảng hung tinh của sách không nói tháng khởi từ mùng Một hay từ ngày giao tiết. Nếu tính theo tháng tiết khí như với ngày hoàng đạo thì những ngày nằm giữa mùng Một và ngày giao tiết sẽ đổi sang Chi của tháng bên cạnh.
| Tháng âm lịch | Chi của ngày | Rơi vào ngày dương lịch nào trong năm 2026 âm lịch |
|---|---|---|
| Tháng 1 | Tuất | 17/21/313/3 |
| Tháng 2 | Thìn | 19/331/312/4 |
| Tháng 3 | Hợi | 19/41/513/5 |
| Tháng 4 | Tỵ | 19/531/512/6 |
| Tháng 5 | Tý | 19/61/713/7 |
| Tháng 6 | Ngọ | 19/731/712/8 |
| Tháng 7 | Sửu | 19/831/8 |
| Tháng 8 | Mùi | 18/930/9 |
| Tháng 9 | Dần | 19/1031/10 |
| Tháng 10 | Thân | 18/1130/11 |
| Tháng 11 | Mão | 19/1231/12 |
| Tháng 12 | Dậu | 18/130/1 |
Căn cứ của bảng: Ngọc Hạp Thông Thư (bản khắc Quảng Thịnh Đường, 1920), tấm 033 — thu thập ngày 27/9/2026.
Câu hỏi thường gặp
- Ngày thọ tử là ngày gì?
- Là một ngày kiêng ứng với một Chi ngày cố định cho từng tháng âm lịch. Việt Nam phong tục năm 1915 xếp nó cùng ngày sát chủ vào nhóm kiêng nhất nhưng không kèm bảng tra; dãy mười hai Chi có trong bảng hung tinh theo tháng của sách chọn ngày chữ Hán.
- Cách tính ngày thọ tử thế nào?
- Mỗi tháng âm lịch ứng một Chi ngày. Tháng lẻ đi liền một mạch từ Tuất, tháng chẵn đi liền một mạch từ Thìn, hai dãy cách nhau sáu ngôi. Bảng ở trên trải sẵn cả mười hai tháng kèm ngày dương lịch tương ứng của năm đang chạy.
- Một tháng có mấy ngày thọ tử?
- Thường là hai hoặc ba, vì một Chi ngày quay lại sau mười hai ngày còn tháng âm lịch dài hai mươi chín hoặc ba mươi ngày. Cột cuối của bảng liệt kê đúng những ngày ấy cho từng tháng của năm âm lịch đang chạy.
- Vì sao mỗi tháng lại có số ngày thọ tử khác nhau?
- Vì Chi của ngày chạy theo vòng mười hai, nối liên tục không ngắt khi sang tháng, còn tháng âm lịch dài hai mươi chín hoặc ba mươi ngày. Tùy chỗ tháng bắt đầu rơi vào đâu trong vòng Chi mà tháng ấy gặp hai hoặc ba lần, và phải tính từng năm chứ không có quy luật theo tên tháng.
- Ngày thọ tử và ngày thụ tử có khác nhau không?
- Không, đó là hai lối đọc của cùng một chữ Hán và dãy mười hai Chi đi kèm giống hệt nhau. Bản chú giải bài Xem ngày kén giờ ghi là thụ tử, còn các trang lịch hôm nay phần lớn ghi là thọ tử.
- Thọ tử là gì?
- Là tên một ngày kiêng tính theo tháng âm lịch. Trong bảng hung tinh theo tháng của sách chọn ngày chữ Hán, cột mang tên này ghi «trăm việc đều kiêng, nên săn bắt», bên dưới là mười hai Chi ngày cho mười hai tháng. Việt Nam phong tục năm 1915 chỉ nhắc cái tên, xếp nó cùng ngày sát chủ vào nhóm kiêng nhất, không kèm bảng.