Kim lâu là gì?
Kim lâu là lối xét tuổi của người đứng ra làm nhà hoặc cưới gả: lấy tuổi mụ chia cho chín, số dư rơi vào 1, 3, 6 hoặc 8 thì theo lối truyền là năm ấy phạm kim lâu.
Nguồn: VnExpress, 13/6/2022; Phan Kế Bính, “Việt Nam phong tục”; VnExpress, 10/1/2023; Tuổi Trẻ, 8/12/2018
Site không dùng kim lâu để luận ngày. Bốn bản tính đang cùng lưu hành cho tới bốn kết luận khác nhau trên cùng một tuổi, và chính người kể ra bốn bản chỉ nhận bản thứ tư là đúng. Bảng bên dưới là bảng của riêng bản chia chín, dựng ra để bạn đối chiếu lối truyền, không phải một kết luận của site.
Cách tính kim lâu theo tuổi mụ
Phép tính quen thuộc nhất chỉ gồm một phép chia. Lấy tuổi mụ của người đứng tên công việc — tuổi mụ là năm âm lịch đang chạy trừ năm sinh âm lịch rồi cộng một — đem chia cho chín và giữ lại số dư. Câu vè lưu truyền gói gọn kết quả trong bốn con số: một, ba, sáu, tám kim lâu. Số dư rơi đúng bốn con số ấy thì năm đó được xem là phạm, các số dư còn lại thì không.
Một ví dụ đếm lại được. Người sinh năm 1990 âm lịch, tính tới năm 2026 âm lịch thì tuổi mụ là 2026 trừ 1990 cộng một, bằng 37. Lấy 37 chia chín được bốn dư một. Số dư một nằm trong bốn con số kể trên, nên theo lối truyền năm ấy phạm, và phạm vào nhánh mang tên kim lâu thân.
Bốn số dư ứng với bốn nhánh có tên riêng: kim lâu thân, kim lâu thê, kim lâu tử, kim lâu lục súc. Theo lối truyền, mỗi nhánh được cho là ứng vào một người khác nhau trong nhà. Chúng tôi chép lại tên và cách gán của lối truyền ở bảng bên dưới, dừng đúng ở đó, và không thêm bất cứ lời đoán hậu quả nào — phần ấy mỗi người kể một khác và không có bản văn nào chịu trách nhiệm.
Chỗ dễ sai nhất không nằm ở phép chia mà nằm ở con số đem chia. Tuổi mụ tính theo năm âm lịch chứ không theo ngày sinh nhật dương lịch, nên người sinh tháng Chạp dương lịch rất dễ bị lệch một tuổi nếu lấy năm dương lịch ra trừ. Trước khi đối chiếu bảng, đáng bỏ ra một phút đổi ngày sinh sang âm lịch cho chắc; trang đổi lịch của site làm việc ấy.
Bảng tuổi mụ bên dưới trải từ 10 tới 79, mỗi dòng ghi luôn năm sinh âm lịch ứng với tuổi ấy nếu tính tới năm âm lịch đang chạy, kèm số dư và tên nhánh. Bảng do chính phép chia sinh ra lúc dựng trang, nên năm sau nó tự lùi đi một năm sinh và không bao giờ mục như những bảng chép tay đóng đinh vào một năm nhất định.
Bốn bản tính kim lâu đang cùng lưu hành
Đây là phần mà hầu hết các trang bỏ qua, và cũng là lý do chính khiến trang này tồn tại. Trong bài trên VnExpress, nhà nghiên cứu văn hóa Phạm Đình Hải kể ra bốn cách tính kim lâu đang cùng được dùng ở Việt Nam, rồi nói thẳng rằng chúng không cho cùng một kết quả.
Bản thứ nhất là lối dân gian chia tuổi mụ cho chín, đúng bản chúng tôi trình bày ở trên. Bản thứ hai không chia gì cả mà nhìn vào chữ số cuối của tuổi: tuổi tận cùng bằng 1, 3, 6, 8 thì kể là phạm. Hai bản này trùng nhau ở tuổi nhỏ rồi tách dần ra: tuổi mụ 21 chia chín dư ba nên bản một kể là phạm, còn bản hai cũng kể là phạm vì tận cùng bằng một — nhưng tới tuổi mụ 19 thì bản một cho số dư một, bản hai lại nhìn vào chữ số chín và kết luận ngược lại.
Bản thứ ba bấm tuổi quanh tám cung theo sách Thông thư, nhưng bài báo nói bản này sai vì hiểu nhầm, ghi chép nhầm hoặc dịch sai. Bản thứ tư cũng theo Thông thư, bấm tuổi theo Lạc thư, và là bản tác giả cho là đúng. Theo bản thứ tư ấy, tuổi 25, 30, 32, 34, 37, 39, 40 nằm trong nhóm làm nhà được — trong khi theo bản thứ nhất thì tuổi mụ 37 lại đang phạm.
Nói cách khác, chỉ riêng tuổi 37 đã đủ để thấy vấn đề: cùng một người, cùng một năm, hai bản cho hai kết luận ngược nhau, và cả hai bản đều nằm trong cùng một bài của cùng một tác giả. Một trang lịch chọn im lặng về chuyện này rồi đưa ra một bảng duy nhất thì không phải là đang cho bạn câu trả lời, mà là đang giấu đi ba câu trả lời khác.
Chữ kim lâu đến từ đâu
Bài của Phạm Đình Hải giải chữ «kim» trong kim lâu là hành Kim, hành có tính khắc sát mạnh, mượn để chỉ điều dữ cần tránh. Kim lâu đi theo tuổi chứ không đi theo ngày — nghĩa là nó không nói gì về một ngày cụ thể, mà nói về cả một năm của một người. Đó là khác biệt đáng để ý, vì phần lớn nội dung của một quyển lịch nói về ngày.
Mục Xem ngày kén giờ trong Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, in năm 1915, có nhắc tới tuổi kim lâu khi kể chuyện làm nhà. Bản gốc viết rất ngắn, chỉ nêu tên trong một câu liệt kê cùng mấy ngày kiêng khác, và không kèm cách tính nào. Cách tính thì phải tìm ở chỗ khác: bài của Phạm Đình Hải truy bản thứ tư về các sách Thông thư khắc in thời Nguyễn, còn hai bản đầu thì bài chỉ ghi là lối lưu truyền dân gian.
Theo tác giả, các sách Thông thư ấy thống nhất ở hai việc: tránh năm phạm kim lâu, rồi chọn năm được «trạch»; và chúng không kiêng hoang ốc, tam tai. Cũng theo bài, có nhiều dị bản và sai sót là vì hiểu nhầm, chép nhầm hay dịch sai qua nhiều đời — nên bốn bản cùng tồn tại như phần trên là chuyện tác giả đã tự kể ra, không phải điều chúng tôi suy đoán.
Ý kiến ngược từ giới nghiên cứu
Trên VnExpress, nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho rằng tục xem tuổi làm nhà không phải là văn hóa truyền thống của người Việt và không có cơ sở khoa học. Đây là ý kiến từ một người làm nghiên cứu văn hóa dân gian, nói về chính tục mà trang này đang giải thích.
Báo Tuổi Trẻ, trong bài của Ngọc Sương, phản bác từ bên trong phong thủy: hai chuyên gia phong thủy được dẫn lời cho rằng tuổi gia chủ chỉ là phần nhỏ, điều cần xét trước là đất đai và tọa hướng ngôi nhà, và tuổi nào cũng làm được nhà. Cả hai bài đều là báo có ký tên, đọc được công khai, và chúng tôi để đường dẫn ở mục nguồn.
Chúng tôi đặt hai ý kiến này ngay trên cùng một trang với phép tính, không đẩy xuống một góc khuất. Một người tra kim lâu xứng đáng được biết đủ cả hai phía trong cùng một lần đọc, thay vì phải đi tìm phía còn lại ở một trang khác.
Vì sao site không dùng kim lâu để luận ngày
Trang ngày của site chia kết luận thành từng tầng riêng, mỗi tầng một dòng, và mỗi tầng đều trỏ về một quy tắc mà bạn đếm lại được. Một tầng chỉ vào được danh sách ấy khi nó có một bản duy nhất đủ rõ xuất xứ. Kim lâu không đạt điều kiện đó: bốn bản cùng lưu hành và cho kết quả khác nhau, nên dù chúng tôi chọn bản nào thì việc chọn ấy cũng là ý riêng của chúng tôi chứ không phải điều sách nói.
Vậy nên trang này giải thích kim lâu, còn trang ngày thì không có dòng kim lâu. Giải thích một khái niệm khác hẳn với việc lấy nó ra kết luận về ngày của bạn. Chúng tôi làm việc thứ nhất và cố ý không làm việc thứ hai.
Danh sách đầy đủ những tầng mà site cố ý để trống, kèm lý do từng tầng, nằm ở trang nguồn gốc và cách tính.
Tuổi mụ, và vì sao con số này hay bị lấy sai
Mọi phép tính kim lâu đều khởi từ tuổi mụ, nên sai ở đây là sai toàn bộ. Tuổi mụ đếm theo năm âm lịch: sang năm âm lịch mới thì mọi người cùng thêm một tuổi, không ai đợi tới ngày sinh của riêng mình. Đó là lối đếm cũ, khác hẳn cách tính tuổi theo ngày sinh nhật dương lịch mà chúng ta quen dùng hằng ngày.
Chỗ vấp phổ biến nhất rơi vào những người sinh trong khoảng từ đầu tháng Một tới giữa tháng Hai dương lịch. Tết Nguyên Đán rơi vào khoảng ấy và xê dịch theo từng năm, nên một người sinh ngày 20 tháng Một chẳng hạn có thể vẫn còn thuộc năm âm lịch trước đó. Lấy năm dương lịch trên giấy tờ ra trừ thì lệch nguyên một tuổi, và một tuổi lệch là đổi hẳn số dư.
Chỗ vấp thứ hai là quên cộng một. Tuổi mụ bằng năm âm lịch đang xét trừ năm sinh âm lịch rồi cộng một, chứ không phải chỉ là hiệu hai năm. Thiếu bước cộng một thì con số bạn đem chia cho chín nhỏ hơn thật một đơn vị, và kết luận đổi theo.
Bảng trên trang này ghi sẵn cột năm sinh âm lịch ứng với từng tuổi mụ chính là để cắt hai chỗ vấp ấy. Bạn dò theo năm sinh âm lịch của mình thay vì tự tính tuổi, còn phần đổi ngày sinh dương lịch sang âm lịch thì trang đổi lịch của site làm giúp.
Ba tầng tuổi thường được hỏi cùng một lúc
Người chuẩn bị làm nhà ở Việt Nam thường nghe nhắc ba cái tên trong cùng một câu: kim lâu, hoang ốc và tam tai. Ba tầng này khác nhau cả về cách tính lẫn về gốc gác. Kim lâu và hoang ốc đều đi theo tuổi mụ nhưng một bên chia cho chín, một bên đếm quanh sáu cung. Tam tai thì không đụng tới tuổi mụ mà đi theo Chi của tuổi, và nó rơi thành ba năm liền nhau.
Vì ba tầng được hỏi cùng lúc nên chúng tôi làm ba trang riêng và nối chúng với nhau, thay vì gộp thành một cỗ máy bấm ra một chữ tốt hay xấu. Gộp lại thì tiện, nhưng cái tiện ấy lại che mất đúng thứ đáng biết nhất: ba tầng vốn không cùng một hệ và không có sách nào nói tầng nào nặng hơn tầng nào.
Nếu việc bạn đang chuẩn bị là động thổ hay nhập trạch, mục xem ngày tốt của site liệt kê những ngày dùng được theo các tầng mà chúng tôi thật sự tính, và nói rõ từng tầng cho kết luận gì.
Bốn nhánh kim lâu theo số dư
Tên nhánh và cách gán chép theo bài của Phạm Đình Hải trên VnExpress, phần trình bày lối dân gian. Site không thêm lời đoán hậu quả cho nhánh nào.
| Số dư khi chia 9 | Tên nhánh | Lối truyền ứng vào ai |
|---|---|---|
| 1 | Kim lâu thân | Số dư 1, theo lối truyền là ứng vào bản thân người đứng tên. |
| 3 | Kim lâu thê | Số dư 3, theo lối truyền là ứng vào người bạn đời. |
| 6 | Kim lâu tử | Số dư 6, theo lối truyền là ứng vào con cái. |
| 8 | Kim lâu lục súc | Số dư 8, theo lối truyền là ứng vào vật nuôi trong nhà. |
Căn cứ của bảng: VnExpress, 13/6/2022 (Phạm Đình Hải, “Tuổi kim lâu có làm nhà được không?”) — thu thập ngày 20/9/2026.
Bảng tuổi mụ 10–79 theo bản chia chín
Cột năm sinh tính theo năm âm lịch đang chạy nên bảng tự cuốn theo thời gian, không phải bảng chép cứng cho một năm. Đây là bản chia chín; ba bản tính khác cho danh sách tuổi khác, xem mục ở giữa trang.
| Tuổi mụ | Năm sinh âm lịch | Số dư | Theo lối chia chín |
|---|---|---|---|
| Tuổi mụ 10–19 | |||
| 10 | 2017 Đinh Dậu | 1 | Kim lâu thân |
| 11 | 2016 Bính Thân | 2 | Không rơi vào nhánh nào |
| 12 | 2015 Ất Mùi | 3 | Kim lâu thê |
| 13 | 2014 Giáp Ngọ | 4 | Không rơi vào nhánh nào |
| 14 | 2013 Quý Tỵ | 5 | Không rơi vào nhánh nào |
| 15 | 2012 Nhâm Thìn | 6 | Kim lâu tử |
| 16 | 2011 Tân Mão | 7 | Không rơi vào nhánh nào |
| 17 | 2010 Canh Dần | 8 | Kim lâu lục súc |
| 18 | 2009 Kỷ Sửu | 0 | Không rơi vào nhánh nào |
| 19 | 2008 Mậu Tý | 1 | Kim lâu thân |
| Tuổi mụ 20–29 | |||
| 20 | 2007 Đinh Hợi | 2 | Không rơi vào nhánh nào |
| 21 | 2006 Bính Tuất | 3 | Kim lâu thê |
| 22 | 2005 Ất Dậu | 4 | Không rơi vào nhánh nào |
| 23 | 2004 Giáp Thân | 5 | Không rơi vào nhánh nào |
| 24 | 2003 Quý Mùi | 6 | Kim lâu tử |
| 25 | 2002 Nhâm Ngọ | 7 | Không rơi vào nhánh nào |
| 26 | 2001 Tân Tỵ | 8 | Kim lâu lục súc |
| 27 | 2000 Canh Thìn | 0 | Không rơi vào nhánh nào |
| 28 | 1999 Kỷ Mão | 1 | Kim lâu thân |
| 29 | 1998 Mậu Dần | 2 | Không rơi vào nhánh nào |
| Tuổi mụ 30–39 | |||
| 30 | 1997 Đinh Sửu | 3 | Kim lâu thê |
| 31 | 1996 Bính Tý | 4 | Không rơi vào nhánh nào |
| 32 | 1995 Ất Hợi | 5 | Không rơi vào nhánh nào |
| 33 | 1994 Giáp Tuất | 6 | Kim lâu tử |
| 34 | 1993 Quý Dậu | 7 | Không rơi vào nhánh nào |
| 35 | 1992 Nhâm Thân | 8 | Kim lâu lục súc |
| 36 | 1991 Tân Mùi | 0 | Không rơi vào nhánh nào |
| 37 | 1990 Canh Ngọ | 1 | Kim lâu thân |
| 38 | 1989 Kỷ Tỵ | 2 | Không rơi vào nhánh nào |
| 39 | 1988 Mậu Thìn | 3 | Kim lâu thê |
| Tuổi mụ 40–49 | |||
| 40 | 1987 Đinh Mão | 4 | Không rơi vào nhánh nào |
| 41 | 1986 Bính Dần | 5 | Không rơi vào nhánh nào |
| 42 | 1985 Ất Sửu | 6 | Kim lâu tử |
| 43 | 1984 Giáp Tý | 7 | Không rơi vào nhánh nào |
| 44 | 1983 Quý Hợi | 8 | Kim lâu lục súc |
| 45 | 1982 Nhâm Tuất | 0 | Không rơi vào nhánh nào |
| 46 | 1981 Tân Dậu | 1 | Kim lâu thân |
| 47 | 1980 Canh Thân | 2 | Không rơi vào nhánh nào |
| 48 | 1979 Kỷ Mùi | 3 | Kim lâu thê |
| 49 | 1978 Mậu Ngọ | 4 | Không rơi vào nhánh nào |
| Tuổi mụ 50–59 | |||
| 50 | 1977 Đinh Tỵ | 5 | Không rơi vào nhánh nào |
| 51 | 1976 Bính Thìn | 6 | Kim lâu tử |
| 52 | 1975 Ất Mão | 7 | Không rơi vào nhánh nào |
| 53 | 1974 Giáp Dần | 8 | Kim lâu lục súc |
| 54 | 1973 Quý Sửu | 0 | Không rơi vào nhánh nào |
| 55 | 1972 Nhâm Tý | 1 | Kim lâu thân |
| 56 | 1971 Tân Hợi | 2 | Không rơi vào nhánh nào |
| 57 | 1970 Canh Tuất | 3 | Kim lâu thê |
| 58 | 1969 Kỷ Dậu | 4 | Không rơi vào nhánh nào |
| 59 | 1968 Mậu Thân | 5 | Không rơi vào nhánh nào |
| Tuổi mụ 60–69 | |||
| 60 | 1967 Đinh Mùi | 6 | Kim lâu tử |
| 61 | 1966 Bính Ngọ | 7 | Không rơi vào nhánh nào |
| 62 | 1965 Ất Tỵ | 8 | Kim lâu lục súc |
| 63 | 1964 Giáp Thìn | 0 | Không rơi vào nhánh nào |
| 64 | 1963 Quý Mão | 1 | Kim lâu thân |
| 65 | 1962 Nhâm Dần | 2 | Không rơi vào nhánh nào |
| 66 | 1961 Tân Sửu | 3 | Kim lâu thê |
| 67 | 1960 Canh Tý | 4 | Không rơi vào nhánh nào |
| 68 | 1959 Kỷ Hợi | 5 | Không rơi vào nhánh nào |
| 69 | 1958 Mậu Tuất | 6 | Kim lâu tử |
| Tuổi mụ 70–79 | |||
| 70 | 1957 Đinh Dậu | 7 | Không rơi vào nhánh nào |
| 71 | 1956 Bính Thân | 8 | Kim lâu lục súc |
| 72 | 1955 Ất Mùi | 0 | Không rơi vào nhánh nào |
| 73 | 1954 Giáp Ngọ | 1 | Kim lâu thân |
| 74 | 1953 Quý Tỵ | 2 | Không rơi vào nhánh nào |
| 75 | 1952 Nhâm Thìn | 3 | Kim lâu thê |
| 76 | 1951 Tân Mão | 4 | Không rơi vào nhánh nào |
| 77 | 1950 Canh Dần | 5 | Không rơi vào nhánh nào |
| 78 | 1949 Kỷ Sửu | 6 | Kim lâu tử |
| 79 | 1948 Mậu Tý | 7 | Không rơi vào nhánh nào |
Câu hỏi thường gặp
- Kim lâu là gì?
- Là lối xét tuổi của người đứng ra làm nhà hay cưới gả. Lấy tuổi mụ chia cho chín, số dư rơi vào 1, 3, 6 hoặc 8 thì theo lối truyền là phạm kim lâu, ứng với bốn nhánh có tên riêng. Đây là một tập quán, không phải một quy tắc lịch pháp.
- Cách tính tuổi kim lâu thế nào?
- Lấy năm âm lịch đang chạy trừ năm sinh âm lịch rồi cộng một để ra tuổi mụ, sau đó chia tuổi mụ cho chín và nhìn số dư. Bảng ở trên đã trải sẵn phép chia ấy cho tuổi mụ từ 10 tới 79, kèm năm sinh tương ứng.
- Kim lâu là tuổi nào?
- Theo bản chia chín, đó là những tuổi mụ cho số dư 1, 3, 6 hoặc 8. Bảng trên liệt kê đầy đủ trong khoảng 10 tới 79 tuổi mụ. Cần lưu ý là còn ba bản tính khác đang lưu hành và chúng cho danh sách tuổi khác, phần giữa trang nói rõ chỗ lệch.
- Tuổi kim lâu có làm nhà được không?
- Không có câu trả lời chung. Ngay trong một bài của VnExpress, tác giả đã dẫn bốn cách tính cho kết quả khác nhau và chỉ nhận một cách là đúng, còn nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ thì cho rằng tục này không có cơ sở khoa học. Site thuật lại cả phép tính lẫn ý kiến ngược, và không đưa ra lời khuyên nên hay không nên.
- Kim lâu thân, kim lâu thê, kim lâu tử là gì?
- Là tên bốn nhánh ứng với bốn số dư: dư một gọi là kim lâu thân, dư ba là kim lâu thê, dư sáu là kim lâu tử, dư tám là kim lâu lục súc. Theo lối truyền, mỗi nhánh ứng vào một người khác nhau trong nhà. Site chép lại tên gọi và dừng ở đó, không kể hậu quả.
- Phạm kim lâu có cưới được không?
- Theo lối truyền, kim lâu được xét cho người đứng ra làm nhà hoặc cưới gả, nên năm phạm thì lối truyền khuyên tránh cả hai việc. Nhưng bốn bản tính đang cùng lưu hành cho kết luận khác nhau trên cùng một tuổi — tuổi mụ 37 phạm theo bản chia chín mà lại nằm trong nhóm làm nhà được theo bản thứ tư — nên trang này bày phép tính của từng bản để bạn tự xét, không kết luận thay.